Phân khoa Triết dịch

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẠI CƯƠNG KHOA DỊCH LÝ HỌC    1
-    Lẽ biến hóa của vũ trụ vô hữu (Vũ – Trụ – Đạo)
PHẦN THỨ NHÌ:  TRIẾT DỊCH  
CHƯƠNG I: LÝ HỌC TRUY NGUYÊN    2
CHƯƠNG II: SỰ ĐỊNH – DANH    3
CHƯƠNG III: LÝ  TRÍ – TÁNH    3
CHƯƠNG IV: LÝ – THÀNH (VÔ – CỰC)    05
CHƯƠNG V: BIẾN HÓA LUẬT (HỆ THỐNG TẠO LẬP VŨ TRỤ)    9
TỔNG LUẬN    12

PHẦN THỨ BA: CHIÊM NHIỆM LÝ DỊCH:
    - Biện minh chứng nghiệm chân lý.

PHẦN THỨ TƯ: THIÊN NHIÊN XÃ HỘI HỌC:
    - Khám phá tổ chức xã hội muôn đời của vũ trụ vô hữu.

PHẦN THỨ NĂM: TIÊN HẬU THIÊN TRÍ TRI Ý THỨC:
    - Khai mở kỷ nguyên mới trong nhân loại.

LÝ DO CÓ CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG HUẤN THỐNG NHẤT NÀY

-    Đúc – kết những phần tinh yêu cầu phải giảng về dịch lý Việt Nam dịch lý hội và các cấp giáo sư.
-    Trình bày trước số khán, thính và học giả chọn lọc hoặc tại các đại học đường (có thể co giãn chương trình thống nhất này, cao thấp tùy trình độ hiểu biết).
Chương trình giảng huấn thống nhất khoa dịch lý học Việt Nam do ban tu thư của Việt Nam dịch lý hội thực hiện, dưới sự chỉnh chính của ông hội trưởng Việt Nam dịch lý hội.

PHẦN THỨ NHẤT
ĐẠI CƯƠNG KHOA DỊCH LÝ HỌC

* Lẽ biến hóa của Vũ Trụ Vô Hữu (Vũ Trụ Đạo).
 CHƯƠNG I: Định nghĩa khoa dịch lý học
-    Dịch
-    Lý
-    Khoa học
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG CHÍNH YẾU CỦA KHOA DỊCH LÝ HỌC:
     - Biến hóa lý học             : Lý học (Âm – Dương – Lý)
     - Biến Hóa Luật             : Có hay không? Ra làm sao?
     - Minh Giải  biến hóa luật : Biện Minh theo tình lý của con người.

CHƯƠNG III: SỞ ĐẮC TRÊN ĐƯỜNG HỌC DỊCH LÝ:
-    Áp dụng được học thuật của tiền hiền, tiên thánh
KHAI VẬT THÀNH VỤ.
-    Ứng dụng vô tư và đúng lúc
THUẬN THIÊN HÀNH ĐẠO.

CHƯƠNG IV: VÀI TÁC DỤNG (LỢI ÍCH) CỦA KHOA DỊCH LÝ HỌC:
·    Đối với Vũ Trụ vô hữu trong đó có con người.
-    Pháp môn tu tỉnh:  Phá mê, chấp, ngã. Gột rửa đầu óc mê lầm cho trí tuệ thêm minh mẫn.
-    Khoa học tổng tập:  Sáng tỏ Á Đông siêu Việt Học.
-    Tổ chức xã hội loài người: Dựa theo luật Quân Bình Sinh Hóa    (Tổ chức  Cơ Mật của trời đất).
-    Khai mở kỷ nguyên mới: Quân bình đạo lý và khoa học trong nhân loại.

PHẦN THỨ NHÌ
LÝ THUYẾT DỊCH LÝ HỌC

CHƯƠNG I:    LÝ HỌC TRUY NGUYÊN

TIẾT I: ĐẠI CƯƠNG VỀ LÝ HỌC TRUY NGUYÊN
-    Khoa dịch lý học là khoa lý học Truy Nguyên:
Từ cỏi Hữu về cỏi vô, từ Hậu – Thiên về Tiên Thiên.
-    Như vậy sẽ rõ được căn nguyên, sẽ nhận thức được Vạn Hữu sống động quy nhất lý và đồng thời rõ được sự tuần tự và trật tự trong vũ trụ vô hữu.

TIẾT II:  LÝ – HỌC LÀ GÌ?
-    Lý là:
+ Lý lẽ thuộc vô hữu lý.
+ Lý do, duyên cớ nào vì lẽ gì biến hóa, hóa thành ra thế nọ, thế kia.

-    Vậy lý học cần hạng người.
+ Dám chấp nhận khi biết đó là hữu lý.
+ Dám phủ nhận khi biết đó là vô lý, phi lý.

TIẾT III: TRUY NGUYÊN LÀ GÌ?
-    Mọi sự lý đều có nguyên nhân trước đó và là nguyên nhân cho sự lý sau đó.
-    Truy nguyên là tìm hiểu căn nguyên muôn vật, ngược dòng thời gian, truy mãi về đến nguyên nhân đầu tiên của mọi nguyên nhân sao cho hữu lý.
-    Khi chịu Truy Nguyên tức đã muốn dấn thân tìm hiểu từ hữu đến vô hoặc từ vô đến hữu.
-    Dùng câu hỏi tại sao để truy lý liên tục và cao độ cho ra lẽ sự gì đó.


KẾT LUẬN:
-    Vậy lý học Truy Nguyên là cái học tìm hiểu ngược dòng thời gian và vượt thời gian, không gian để rõ biết cái lý do, cái duyên cớ thành ra vạn hữu.
-    Lý học Truy Nguyên là cái học giải đáp mọi câu hỏi thắc mắc thuộc loại tại sao về đến không hoàn toàn không cực (KHTK cực) tức Vô Toàn Vô Cực).

CHƯƠNG II:
SỰ ĐỊNH DANH

TIẾT I: ĐẠI CƯƠNG VỀ SỰ ĐỊNH DANH:
    MỤC I    : ĐỊNH NGHĨA: định danh là gì?
    MỤC II    : VÔ DANH: Vạn Hữu trước kia vốn không tên.
    MỤC III    : NHU CẦU TIẾN HÓA CỦA CON NGƯỜI: Nên sự ghi dấu và ký hiệu (Văn từ  và ngôn xướng, cũng tiến hóa theo đề).
-    Phân biệt Vạn Hữu (gồm có tượng hình, hài thanh).
-    Truyền thông tư tưởng giữa con người.
MỤC IV: DANH TỪ BIẾN HÓA THEO THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN:
-    Về cách vẽ vời, ngôn xướng, ý nghĩa.
MỤC V: ĐỊNH DANH CHỈ LÀ QUY ƯỚC:
-    Giữa con người.
-    Ít có giá trị thuộc về chân lý học, thuộc về Siêu Thanh.
-    Chỉ có giá trị thuộc lẽ thật của Danh Ngôn.

TIẾT II: NGUYÊN LÝ ĐỊNH DANH:
    MỤC I    : Ý THỨC SỰ LÝ: Có hiểu biết ít nhiều sao đó về Sự Lý
    MỤC II : SO SÁNH SỰ LÝ: Trong phạm vi âm  (ĐỒNG NHI DỊ).    

    MỤC III : ĐỊNH DANH CHO SỰ LÝ: Gắn cho sự lý một tên gọi (vẽ vời, ngôn xướng).
    MỤC IV : ĐỊNH NGHĨA VỀ SỰ LÝ: Neo ý tưởng, ý nghĩa nào đó cho sự vẽ vời, ngôn xướng.
KẾT LUẬN:
-    Giá trị của sự Định Danh chỉ là Quy Ước giữa Con Người.
-    Chỉ có giá trị thuộc Vang Động, Âm Vang, Phát Âm, Phát Thanh trải qua gồm có Tượng Hình, Hài Thanh. (Chú ý: Có những thứ khó nghe được âm – vang như LÝ, ĐỨC, TÍNH, THỜI, THẦN, KHÍ, TÌNH).
-    Đó là sự thật của Danh chớ không phải là sự thật của vô danh.
-    Nên dùng Danh Từ như là một phương tiện để dễ đạt lý.

CHƯƠNG III:
LÝ – TRÍ - TÁNH
    
TIẾT I: ĐẠI CƯƠNG VỀ LÝ TRÍ TÁNH:
    MỤC I: ĐỊNH NGHĨA: LÝ TRÍ TÁNH LÀ GÌ?
1.    Tánh hiểu biết và không hiểu biết.
2.    Tánh biết hiểu biết và biết không hiểu biết.
3.    Tánh biết hóa ra biết trở nên (Vô – Cực – Tánh): là tất cả trong muôn đời và khắp nơi.
    MỤC II: PHẠM VI TRỰC NGỰ CỦA LÝ TRÍ TÁNH:
1.    Ý người: Lý trí tánh ở con người thì gọi là ý người.
2.    Ý trời: Lý trí tánh ở khắp nơi thì gọi là ý trời.
3.    Tiên hậu thiên trí tri ý thức: Lý trí tánh nếu kể từ lúc chưa có trời đất đến lúc có trời đất còn được gọi là Tiên Hậu, Thiên Trí, Tri Ý Thức.

TIẾT II: XÉT NÉT SƠ LƯỢC VỀ CON NGƯỜI:
    MỤC I: ĐẠI CƯƠNG VỀ CON NGƯỜI
1.    Bị và được gán Danh là con người.
2.    Sống động trong xã hội con người.
3.    Con người được tạm chia làm hai phần: Giác Quan về lý trí.
4.    Giác Quan và Lý Trí cũng chỉ là Tánh Biết không hiểu biết hoặc biết hóa ra thế nọ thế kia, nói chung đều là lý trí tánh.
    MỤC II:  TƯ NĂNG CỦA CON NGƯỜI:
1.    Con người luôn luôn dùng xài Lý Trí Tánh không giây phút ngừng nghỉ (lúc thức, lúc ngủ, lúc sống, lúc chết, lúc chưa sinh ra, lúc đã sinh ra…….) trên mọi phương diện như học hỏi, phát minh, chế tác, mơ tưởng, tư tưởng, chiêm bao, trừu tượng…….
2.    Con người dùng Lý Trí Tánh thắc mắc và giải đáp cho nhu cầu Lý Trí Tánh của mình mà hóa ra Văn Minh, Tiến Bộ cho chính bản thân và cho Vũ Trụ Vạn Vật.
    MỤC III: ĐỘNG THÁI CỦA CON NGƯỜI: ĐỒNG Ý VÀ BẤT ĐỒNG Ý 

1. Ý là lực lượng chung, nhưng ở mỗi người, ở mỗi loài là đặc tính riêng, là ý riêng có hơi khác nhau.
2.    Ý có thể phân ra làm 8, ngoài ra chỉ na ná vậy thôi.
    Ý tưởng, ý nghĩ, ý thích, ý thức Ý niệm, ý chí, ý định, ý kiến.
3.    Con người với con người dùng ý giao dịch với nhau trong một sự lý thì ý của 2 người  sẽ không giống mà hơi khác sao đó nên xảy ra có vấn đề đồng ý và bất đồng ý.
4.    Do đồng ý và bất đồng ý tức khả năng hiểu biết và không hiểu biết giống mà hơi khác nhau đã tạo nên thiên hạ sự đa đoan như hiện nay.
5.    Biết được nguyên do của thiên hạ sự, người học dịch không còn lấy làm lạ về tình đời, tình người và dễ cảm thông của khắp cả mọi người và muôn loài vạn vật.

TIẾT III: XÉT NÉT SƠ LƯỢC VỀ Ý TRỜI: BIẾN HÓA.
    MỤC I: ĐỊNH NGHĨA VỀ TRỜI:
1.    Lý trí tánh ở khắp mọi nơi và muôn đời gọi là ý trời hay tiên hậu thiên trí tri ý thức.
2.    Ý trời là biến hóa hay siêu hình biến hóa, là manh nha.
    

    MỤC II: Ý TRỜI NGỰ TRỊ MUÔN LOÀI VẠN VẬT:
1.    Biến hóa là ý trời:
a.    Để nhìn biết được biến hóa thì dựa vào công thức
Bộ mặt củ + hơi khác -> bộ mặt mới
b.    Muôn loài vạn vật không có gì và không lúc nào là không biến hóa.
3.    Biến hóa là một lý lẻ gọi là dịch lý:
Vì biến hóa có tính cách khắp cùng và biến hóa chưa từng đình nghỉ nên gọi lý biến hóa hay dịch lý là chân lý, là lẻ thật.

KẾT - LUẬN:
-    Vạn hữu sống động do nơi lý trí tánh tức tiên hậu thiên trí tri ý thức và đều chung chịu một lý là lý dịch hay dịch lý, chớ không có gì khác nữa.

-    CHƯƠNG IV: LÝ THÀNH

TIẾT I: ĐẠI CƯƠNG VỀ LÝ THÀNH:

    MỤC I: ĐỊNH NGHĨA LÝ THÀNH:
    1. Lý thành là bởi lẽ nào đó mà Vạn Hữu Thành Tựu bất kể Thành hữu Hình, Vô Hình, Siêu Hình (kể cả Thành Không Hoàn Toàn Không tức Thành Cực Không).
    2. Lý Thành cũng chính là Lý Hóa Thành, Biến Hóa, Biến Đổi hay gọi là Dịch Lý.
    3. Tôi Con Người và Muôn Loài Vạn Vật, Vũ Trụ Vô Hữu dù chấp nhận hay không thì cũng vẫn là những cái bị Hóa Thành, Trở Thành thế này, thế khác, nối tiếp đã qua, hiện tại và sắp đến, đời đời thảy đều bị Biến Đổi.
    MỤC II: PHÂN BIỆT LÝ THÀNH:
    Chỉ có một Lý Thành, nhưng tạm phân làm hai là: Lý Thành Tiên Thiên và Lý Thành Hậu Thiên để dễ dàng nghiên cứu, học tập và phù hợp cho những đầu óc muốn biết: Trước Sau Kế Tiếp.
1.    Lý Thành Tiên Thiên: Một Mà Ba
-    Là Lý Thành Nhiệm – Nhặt đầu tiên khi KHTK (KHÔNG HOÀN TOÀN KHÔNG) không còn là KHTK nữa, tức là KHTK cực công thức Lý Thành Tiên Thiên là:
KHTK  +–  MANH NHA    ->  KHTK CỰC
-    Vậy Lý Thành Tiên Thiên nhiệm nhặt là MỘT MÀ BA để chỉ về khắp nơi Linh Động, Mầu Nhiệm, Huyền Diệu mãi mãi.

2.    Lý Thành Hậu Thiên: Chuỗi Lý Một Mà Ba
-    Vạn Hữu chỉ là những cái Thành Liên Lũy theo chuỗi Lý Thành Tiên Thiên Một Mà Ba. Công thức Lý Thành Hậu Thiên là:
BỘ MẶT CỦ + HƠI KHÁC -> BỘ MẶT MỚI

TIẾT II: LÝ CỰC LÀ UYÊN – NGUYÊN CỦA MỌI SỰ THÀNH:
      MỤC I: ĐỊNH NGHĨA LÝ – CỰC:
1.    Lý Cực là lẽ cuối cùng của KHTK tức đã có Lý Khởi Dứt Nhiệm nhặt, mầu nhiệm, linh động, huyền diệu nên gọi là KHTK Cực.
2.    Phải có CỰC KHÔNG thì muôn vật mới THÀNH được, CỰC KHÔNG là KHTK BỘ MẶT CỦ HƠI KHÁC.
3.    Vậy Lý Cực là UYÊN NGUYÊN của mọi sự THÀNH.
    MỤC II: MANH NHA LÀ CỰC, CỰC LÀ MANH – NHA:


ĐIỀU A: ĐỊNH – NGHĨA MANH – NHA:
-    MANH – NHA là để chỉ về chớm nở BIẾN – HÓA nhiệm – nhặt sâu kín nhất từ đó muôn vật khởi đầu BIẾN – HÓA.
-    Có MANH – NHA mới nói cực. Có CỰC mới nói BIẾN – HÓA.
-    Vậy khi MANH – NHA là đã CỰC, đã BIẾN – HÓA rồi. Nói cách khác cực là đã MANH – NHA.
-    Cực không tức KHTK MANH – NHA. Vậy CỰC hay MANH – NHA chỉ là MỘT.


ĐIỀU B: KHTK CỰC là MANH – NHA:
-    KHTK đã CỰC nên không còn có vấn đề KHTK nữa mà là KHTK MANH – NHA.
-    KHTK MANH NHA là KHTK HÓA THÀNH, LÀ BIẾN HÓA khởi đầu.
-    Vậy KHTK MANH NHA đáng là Nguyên Nhân Đệ Nhất của mọi HÓA THÀNH sau này.
    MỤC III: LÝ CỰC LÀ MỘT THIÊN TÍNH ĐỒNG NHI DỊ:
    1. CỰC là một Nhiên Tính ĐỒNG NHI DỊ nên Vạn Hữu sau này đều là ĐỒNG NHI DỊ (Giống Mà Hơi Khác). Đã là một Nhiên Tính thì không có vấn đề phủ nhận hay chấp nhận, vì phủ nhận hay chấp – nhận cũng chỉ là Nhiên – Tính ĐỒNG NHI DỊ: Chấp – Nhận, Phủ – Nhận.
    Thật ra Nhiên – Tính ĐỒNG NHI DỊ không cần ai chấp  nhận vì lẽ thật  không thể phủ – nhận được.
    2. CỰC liên – lỉ nối – tiếp trong vô giây, có thể hình – dung, hội ý là manhđđộng, rung động, liên động, biến động, phát động, chuyển động, vang động, hành động.
    3. Vì cực liên lỉ nối tiếp trong vô giây nên vạn hữu biến hóa (thành) cũng liên tục nối tiếp trong vô giây không bao giờ đình nghỉ được nữa.
    4. Vì vạn hữu hóa thành đã phải bị đi trong cái lẽ cực vô (lý – cực) nên gọi là đạo cực, ý nói không chấp nhận không hoàn toàn không.

TIẾT III: YẾU LÝ ĐỒNG NHI DI LÀ TIỀM LỰC CỦA MỌI BIẾN HÓA, HÓA THÀNH:
     MỤC I: ĐỊNH NGHĨA YẾU LÝ ĐỒNG NHI DỊ.
1.    Đồng nhi dị là giống mà hơi khác.
2.    Đồng nhi dị được đề ra vì hỏi nó là tiềm lực biến hóa, là yếu lý tạo dựng muôn loài vạn vật khắp nơi và muôn đời, là nguyên lý thành vạn hữu.
3.    Nhờ tiên hậu thiên trí tri ý thức mà con người khám phá ra yếu lý đồng nhi dị và cũng chính đồng nhi dị trí tri ý thức  biến hóa luật.
     MỤC II: DIỄN TRÌNH KHÁM PHÁ RA YẾU LÝ ĐỒNG NHI DỊ:
1.    Khám phá ra lý cực và yếu lý đồng nhi dị là do có trãi qua sự chống đối, đã phá liên tục tư tưởng, tâm trí, lý trí tánh của chính mình trong nhiều năm tháng mà về đến thắc mắc: tại sao có lý trí tánh, và rốt cùng về đến chỗ chưa có lý trí tánh. Bằng như về đến chỗ tư tưởng và không tư tưởng, về đến chỗ hóa ra và chưa hóa ra.
2.    Thế là đến KHTK Manh Nha tức là KHTK cực. Do đó mới đề ra được công thức biến hóa linh động, mầu nhiệm, nhiệm nhặt và huyền diện thuộc về tiên thiên là:
HTK + MANH NHA -> KHTK CỰC
    Và thuộc về Hậu Thiên là:
BỘ MẶT CỦ + HƠI KHÁC -> BỘ MẶT MỚI
3.    Hai công thức biến hóa trên cũng chỉ là một vì lý do tiên hậu thiên cùng lúc. Từ đây học giả sẽ càng rõ ràng hơn, để hiểu hơn về lý cực và yếu lý đồng nhi dị nếu thấu đáo về hai công thức biến hóa trên.
4.    KHTK Manh Nha chỉ có lý khi so lại với KHTK và ngược lại KHTK chỉ có lý khi so với KHTK Manh Nha, tức KHTK và KHTK Manh Nha tự chúng ban  nghĩa lý lẫn cho nhau mà hóa ra cả hai đều có lý.
5.    Chính KHTK Manh Nha là lý lẽ đầu tiên để chỉ cho rõ KHTK không còn phải là KHTK nữa mà là KHTK cực.
6.    Thành KHTK cực nhiệm nhặt trong đó có hai là KHTK và Manh Nha. Vậy Lý Thành Tiên Thiên là một mà hai mới hữu lý. Kể luôn cái thành KHTK cực, vậy Lý Thành Tiên Thiên  nhiệm nhặt là một mà ba.
7.    Vì KHTK cực là y hệ KHTK mà hơi khác nên gọi là Đồng Nhi Dị.


ĐIỀU B: LÝ THÀNH HẬU THIÊN: CHUỖI LÝ MỘT MÀ BA:

BỘ MẶT CỦ + HƠI KHÁC -> BỘ MẶT MỚI


1.    Bộ mặt mới chỉ là bộ mặt củ mà hơi khác (Đồng Nhi Dị) bất kể hiểu, thấy, nghe hay không….
2.    Vạn hữu bao giờ cũng có nguyên nhân trước đó nên bộ mặt mới lúc nào cũng ôm ấp bộ mặt củ. Vì thế mới nói hậu thiên ôm ấp tiên thiên tức trong âm có dương, trong dương có âm.
3.    Một cái thành (Bộ mặt mới) nhiệm nhặt trong đó có hai (bộ mặt củ + hơi khác). Vậy Thành là một mà có hai trong đó mới hữu lý. Kể luôn cái thành (Bộ mặt mới) vật lý thành là một mà ba. Vì Vạn Hữu về sau gồm nhiều cái hơi khác chung hợp lại nên có trước sau. Do đó mới nói thành theo chuỗi lý một mà ba.
4.    Vì bộ mặt mới chỉ là bộ mặt củ và hơi khác nên:
-    Để cho dễ hiểu thì nói về phạm vi phân tích là MỘT MÀ CÓ HAI
-    Để quán triệt thì nói về phạm vi ẩn hiện (đức tính) là MỘT MÀ HAI
-    Để cho muôn đời, khắp nơi thì nói về Phạm Vi Hữu Lý (Lý Lẽ) là MỘT LÀ HAI
5.    Vì muôn vật biến hóa, hóa thành bởi một lý do và chúng được hữu lý bởi yếu lý đồng nhi dị là: giống mà hơi khác, một mà có hai, một mà hai, một là hai. (Nhật ký).
Lý muôn đời vì đó là lẽ thật không nơi nào không có, không đời nào không có.
TIẾT IV: DIỄN TIẾN CỦA MỘT CÁI THÀNH HẬU THIÊN
    MỤC I: NHU CẦU ÂM DƯƠNG: ÂM DƯƠNG TƯƠNG CẦU.
    MỤC II: LUẬT TƯƠNG ĐỘNG, TƯƠNG GIAO, TƯƠNG CẢM, TƯƠNG SINH:
    MỤC III: LÝ NGUYÊN HANH – LỢI TRINH:


-    Mọi cái Thành Hậu Thiên đều theo Lý Nguyên Hanh Lợi Trinh:
* NGUYÊN    : VẠN VẬT CHI THỈ
* HANH        : VẠN VẬT CHI TRƯỞNG
* LỢI        : VẠN VẬT CHI TOẠI.
* TRINH         : VẠN VẬT CHI THÀNH
  

   MỤC IV: ÂM DƯƠNG TIÊU TRƯỞNG LUẬT:
     ĐIỀU A    : ÂM DƯƠNG TRỤC: TRỤC SINH HÓA
     ĐIỀU B    : ÂM DƯƠNG VẬN HÀNH (TỨ TƯỢNG): Trục Quân Bình  (Cân Xứng).
     ĐIỀU C    : ĐƯỜNG ĐI DĨ NHIÊN CỦA MUÔN LOÀI VẠN VẬT:
    1. Tiêu trưởng    : Âm trưởng, Dương Tiêu.
                               Dương Trưởng, Âm Tiêu.
    2. Ẩn Hiện        : Âm Ẩn, Dương Hiện.
                  Dương Ẩn, Âm Hiện.

CHƯƠNG V: BIẾN HÓA LUẬT: HỆ THỐNG TẠO LẬP VŨ TRỤ.

TIẾT I: ĐẠI CƯƠNG VỀ BIẾN HÓA LUẬT.
-    Vốn biết muôn vật thành có lý – lẽ, bởi lý do sao đó, nhưng tôi con người thắc mắc thành. Có theo quy luật nào không hay hỗn độn?? Tức muốn biết: có biến hóa luật hay hệ thống tạo lập vũ trụ không? Nếu có thì ra làm sao?

TIẾT II: BÀI TOÁN THÀNH VÔ – TƯ:
    MỤC I: THẮC MẮC VỀ SỰ GIAO HỢP CỦA CÁI HAI TRONG CÁI                   MỘT:
-    Vốn biết thành tối thiểu phải có hai đã và đang chung cùng bức như đã và đang tương động, tương giao, tương cảm để hóa sinh bộc mạch mới nữa. Thắc mắc: Hai đó đã giao hợp, đi lại như thế nào mà đã thành bộ mặt mới và sẽ thành bộ mặt mới nữa???
    MỤC II: PHÂN TÍCH TRONG CÁI THÀNH:
1.    Bằng cách mượn Danh Am Dương và giản dị hóa bằng vạch Đứt
 ( _ _ ), Vạch Liền ( ___ ) thuộc mắt thấy để dễ dàng cho sự hiểu biết hoặc bằng cách khác tùy phương tiện, trình độ cao thấp để chỉ cho thấy hai trong cái một đã giao hợp, đã đi lại với nhau ra làm sao.
2.    Am Dương khi giao hợp, đảo chuyển tự do theo tư cách mò mẫn vô tư chỉ có được 8 hình bóng khác nhau. Nhưng chưa thấy được tuần tự và trật tự ở trong 8 hình bóng đó.
TIẾT III: BÀI TOÁN THÀNH ĐỀ NGHỊ: THEO 3 NGUYÊN LÝ BIẾN HÓA THỨ TỰ:
·    Thử áp dụng 3 nguyên lý biến hóa để tìm tuần tự và trật tự của bất cứ cái thành nào, kể cả thành không hoàn toàn không.
    MỤC I: 3 NGUYÊN LÝ BIẾN HÓA
1.    Một mà hai: Am Dương
2.    Khởi trước, dứt sau: Am trước, dương sau.
3.    Bộ mặt mới phủ lên trên: Am dương chồng chất lên nhau.
    MỤC II: KẾT QUẢ BÀI TOÁN THÀNH ĐỀ NGHỊ:
-    Bài toán Thành này cũng chỉ có được 8 hình bóng có 3 vạch thôi, tuy khác nhau nhưng đã thấy có tuần tự và trật tự của 8 hình.

(Một Cái Thành)
    MỤC III: TUẦN TỰ VÀ TRẬT TỰ CỦA ĐỊNH LÝ THÀNH 8:
1.    Gọi tuần tự và trật tự của 8 hình bóng đó là định lý 8 hay định luật 8.
2.    Tạm đặt tên cho 8 hình bóng đó để dễ phân biệt và dễ nói chuyện theo thứ tự là:
Khôn, cấn, khảm, tốn, chấn, ly, đoài, kiền.
    MỤC IV: BIẾN HÓA LUÂT HỆ THỐNG TẠO LẬP VŨ TRỤ:
1.    Định lý 8 và kể cả cái thành định lý 8 (Am Dương Tiên Hậu), vậy là (8x8) 64.
2.    64 Hình bóng hay gọilà 64 Dịch tượng chính là biến hóa luật hay hệ thống tạo lập vũ trụ.
3.    Kể từ đây dịch lý đã được con người hữu hình hóa bằng vạch đứt và vạch liền hay vạch âm và vạch dương; hoặc bằng cách nào tùy ý, tùy phạm vi vô hữu.
    MỤC V:  ĐỊNH DANH, ĐỊNH Ý NGHĨA CHO CÁC DỊCH TƯỢNG:
    - Vốn biết dịch tượng trước kia không có danh và ý nghĩa chi hết, nhưng vì nhu cầu tình người và tình đời mà bất đắc dĩ phải định danh, định ý nghĩa một cách sơ mọn để giúp cho dễ dàng trên phương diện học hỏi, nghiên cứu
ĐIỀU A: ĐỊNH DANH, ĐỊNH Ý NGHĨA CHO 8 TƯỢNG ĐƠN: MỖI 3 VẠCH:
1.    TIÊN THIÊN DANH Ý:
-    Xét về lý đức hoặc đức tính: có danh ý là:
HƯ, NGƯNG, TRỤ, TIỀM, KHỞI, VŨ, HIỂN, NHƯ.
2.    HẬU THIÊN DANH Ý:
-    Xét về Hình Dạng: có danh ý là:
LỤC ĐOẠN, PHỦ HẠ, TRUNG MÃN, HẠ ĐOAN, NGUỠNG THƯỢNG, TRUNG HƯ, THƯỢNG KHUYẾT, TAM LIÊM.
-    Xét về vật chất: có Danh ý là:
ĐỊA, SƠN, THỦY, PHONG, LÔI, HỎ, TRẠCH, THIÊN.
ĐIỀU B: ĐỊNH DANH, ĐỊNH Ý – NGHĨA CHO 64 DỊCH TƯỢNG KÉP: MỖI 6 VẠCH:
1.    TIÊN THIÊN DANH Ý:
HƯ HƯ, HƯ NGƯNG, HƯ TRỤ, HƯ TIỀM, HƯ KHỞI, HƯ VỦ, HƯ HIỂN, HƯ NHƯ.

NGƯNG HƯ, NGƯNG NGƯNG, NGƯNG TRỤ, NGƯNG TIỀM, NGƯNG KHỞI, NGƯNG VỦ, NGƯNG HIỂN, NGƯNG NHƯ,

TRỤ HƯ, TRỤ NGƯNG, TRỤ TRỤ, TRỤ TIỀM, TRỤ KHỞI, TRỤ VỦ, TRỤ HIỂN, TRỤ NHƯ.

TIỀM HƯ, TIỀM NGƯNG, TIỀM TRỤ, TIỀM TIỀM, TIỀM KHỞI, TIỀM VỦ, TIỀM HIỂN, TIỀM NHƯ.

KHỞI HƯ, KHỞI NGƯNG, KHỞI TRỤ, KHỞI TIỀM, KHỞI KHỞI, KHỞI VỦ, KHỞI HIỂN, KHỞI NHƯ.

VỦ HƯ, VỦ NGƯNG, VỦ TRỤ, VỦ TIỀM, VỦ KHỞI, VỦ VỦ, VỦ HIỂN, VỦ NHƯ.
HIỂN HƯ,

HIỂN NGƯNG, HIỂN TRỤ, HIỂN TIỀM, HIỂN KHỞI, HIỂN VỦ, HIỂN HIỀN, HIỂN NHƯ.
NHƯ HƯ,

NHƯ NGƯNG, NHƯ TRỤ, NHƯ TIỀM, NHƯ KHỞI, NHƯ VỦ, NHƯ HIỂN, NHƯ NHƯ.
  

 2. HẬU THIÊN DANH Ý:
THUẦN KHÔN, KHIÊM, SƯ, THĂNG, PHỤC, MINH SẢN, LÂM, THÁI, BÁC,

THUẦN CẤN, MÔNG, CỔ, DI, BÍ, TỔN, ĐẠI – SÚC, TỶ, KIÊN,

THUẦN KHẢM, TỈNH, TRUÂN, KÝ TẾ, TIẾT, NHU, QUAN, TIỆM, HOÁN,

THUẦN TỐN, ÍCH, GIA NHÂN, TRUNG PHU, TIỂU SÚC, DỰ TIỂU QUÁ, GIẢI, HẰNG,

THUẦN CHẤN, PHONG, QUI MUỘI, ĐẠI TRÁNG, TẤN, LỮ, VỊ TẾ, ĐỈNH, PHỆ HẠP,

THUẦN LY, KHUÊ, ĐẠI HỬU, TỤY, HÀM, KHÔN, ĐẠI QUÁ, TÙY, CÁCH,

THUẦN ĐOÀI, QUẢI, BỈ, ĐÔN, TỤNG, CẤU, VÔ VỌNG, ĐỒNG NHÂN, LÝ,

THUẦN KIỀN....

TỔNG LUẬN: CON NGƯỜI VŨ TRỤ DỊCH
    Con người Vũ Trụ Dịch có cái nhìn sâu sắc về vũ trụ và nhân sinh trong muôn đời và khắp nơi như sau:
    VŨ TRỤ QUAN: VẠN HỮU BIẾN HÓA, HÓA THÀNH LIÊN LỈ
                 (Sinh Sinh Chi Vị Dịch)    
    Vũ trụ đạo nói: Vũ trụ vô hữu tiên thiên, hậu thiên bất kể không gian, thời gian nào, đều do yếu lý đồng nhi dị mà sinh biến hóa, hóa thành thế nọ, thế kia không đình nghỉ được nữa. Trong đó có vấn đề: Tương động, Tương giao, Tương cảm, Tương sinh, tức hóa thành mới mãi nhưng chỉ do một lý, một luật.
    
Nhất lý: Yếu lý đồng nhi dị muôn đời và khắp nơi.
    Nhật luật: Biến hóa luật muôn đời và khắp nơi.
             (Hệ thống tạo lập vũ trụ: Một là 8, là 64).

B. NHÂN SINH QUAN: CON NGƯỜI VŨ TRỤ DỊCH.
    - Tôi con người là một sống động vô hữu khác trong và ngoài con người tôi.
    - Con người nào thất đạt dịch lý ắt sẽ vô tư, vị tha và bình thản vui buồn cùng thiên mệnh, thuận thiên mà hành đạo, đem lại an hòa duyệt lạc cùng khắp cả muôn loài.     
    Đời sẽ đặt ra muôn ngàn tên cho muôn ngàn khoa, nhưng cũng chỉ là dịch lý thôi. Đó là việc dĩ nhiên phải xảy ra. Bởi thế khoa dịch lý học Việt Nam đi trong vận hội cùng với thời gian trôi qua, hiện tại và tương lai, nó sẽ mang những danh tánh hơi khác nhau bởi các tầng lớp trí thức không giống nhau. Ví dụ:
1.    LÝ HỌC VẠN VẬT QUY NHẤT LÝ: Đối với lớp người truy tầm chân lý, chấp nhận lý trí, lý học.
2.    VŨ TRỤ ĐẠO: Đối với lớp người đạo học, chân tu.
3.    SIÊU VIỆT HỌC, SIÊU NHIÊN HỌC, TIÊN THIÊN TRIẾT LÝ:
Đối với lớp người như các Triết gia cầu tiến.
4.    LUẬT TIẾN HÓA: Đối với lớp người Bác – học uyên thâm, truy nguyên.
5.    KHOA HỌC TỔNG TẬP: Đối với lớp người tôn sùng, ưa thích khoa học.
6.    BIẾN HÓA LÝ HỌC TỔNG QUÁT: đối với lớp người thông thường tìm hiểu.
7.    TRI HÓA THẦN TOÁN: đối với lớp người chiêm tinh, bói toán, mê tín.
8.    LUẬT THIÊN ĐỊA TUẦN HOÀN: đối với lớp người ngoan cố, ngu xuẩn, thoái hóa, chậm tiến.
9.    ÂM DƯƠNG XÃ HỘI HỌC: đối với lớp người lãnh đạo, chỉ huy, quản trị, tổ chức về chính trị, quân sự, kinh tế, đoàn thể văn hóa, tôn giáo, quần chúng…../.

Trước đó | Tiếp theo